28.9.14

“给我一支烟” 第二章 CHO EM MỘT ĐIẾU THUỐC CHƯƠNG II

  理所当然的,我们相互留了电话号码Đương nhiên chúng tôi cùng lưu số điện thoại nhau.
  说真的,对我而言,她只是一个漂亮女孩,一个风月场上游刃有余的漂亮女孩。
Nói thật, với tôi mà nói, em chỉ là một đứa con gái xinh đẹp thạo nghề trăng gió .
 (游刃有余[yóurènyǒuyú] thành thạo; tay nghề thành thạo; tay nghề điêu luyện。)
戏子无情,那什么无义,本身就是有一搭儿没一搭儿的事。
Như người con hát vô tình vô nghĩa, bản thân chỉ là chuyện được không được.



可话说回来,爱美之心人皆有之,我是凡夫俗子,只能按俗人的方式支配自己的行为。
Ngẫm lại, sống là phải yêu cái đẹp, tôi cũng chỉ là kẻ phàm phu tục tử, cứ theo phương thức của kẻ phàm phu mà hành động.
(凡夫俗子[fánfū súzǐ] phàm phu tục tử; người thường。)
  第三天,我接到她的电话,在凌晨一点半。Ngày thứ ba, tôi nhận được điện thoại của em, tầm một rưỡi sáng.
(
凌晨 [língchén] hừng đông; rạng sáng; sáng sớm。)

我下班了,你在哪儿呢?请我吃饭吧。 “ Em xong rồi, anh đang ở đâu nhỉ? Mời em ăn cơm nhé”
  我从床上一跃而起,得,我去接你。 Tôi bật dậy khỏi giường , “Được, anh đến đón em đây.”
(跃 [yuè] nhảy; vọt)

  我一边穿衣服一边骂自己贱货,本来嘛,就算是天仙我明天也得上班啊,除了贱我还真不知说自己什么好。
Vừa mặc đồ tôi vừa mắng bản thân mình đồ ngốc, em có là tiên nữ giáng trần thì sáng mai cũng cũng phải đi làm, chẳng hiểu mình có nên trò trống gì không.
(贱货[jiànhuò] đồ đê tiện; đồ hèn; đồ ngu (thường dùng cho nữ)。
天仙[tiānxiān] tiên nữ; người đẹp。)

  我们约在一家湘菜馆。Chúng tôi hẹn nhau ở một quán cơm Hồ Nam.
  她坐在墙角的一张桌子里,穿了一件低胸的米色上衣,雪白的肌肤在灯光下晃得人有点眼晕Em ngồi ở một chiếc bàn trong góc tường, mặc một chiếc áo khoác màu kem trễ ngực, dưới ánh đèn điện làn da trắng ngần sáng bừng đến hoa mắt.
  给我一支烟。她说。 Cho em một điếu thuốc.” Em nói.
  蓝色的烟雾裹住她的脸,在她厚重的脂粉之下到底有一颗怎么的心?
Làn khói xanh cuộn tròn trước mặt em, dưới lớp phấn son dày kia rốt cuộc lòng dạ thế nào?
  哎,你怎么会做这一行的? “ Này, làm sao mà em làm nghề này?”
  没事吧你?这有什么好问的?她低下头,冲我吐出一口烟,轻轻一笑,本来是勤工俭学来着,后来发现……” “ Không việc gì đến anh? Có gì hay mà hỏi?” Em hơi cúi đầu, phả một làn khói vào mặt tôi, cười dịu lại, “ Thì vừa học vừa làm, sau này phát hiện ra…….”
  什么? “ Cái gì?”
  你就跟查户口的似的……后来发现钱好挣呗!
“Anh cứ như bọn tra hộ khẩu ý……Sau này phát hiện ra tiền dễ kiếm thật!”

  尽管她说自己的事的时候有所保留,但我还是听明白了关于她的前尘经历——
Khi nói về mình em gần như giữ kẽ, nhưng tôi vẫn nghe hiểu rõ hơn về quá khử của em.

  她是青岛人,高中毕业之后凭一副好嗓子在夜总会唱歌,Em là người Thanh Đảo, học xong cấp 3, nhờ có chất giọng tốt em đi hát cho một hộp đêm.

后来参加成人高考考到北京第三外国语学院德语系,Sau đó tham gia kì thi đại học bổ túc, đỗ vào trường Ngoại ngữ ngành tiếng Đức ở Bắc Kinh.
暑假时跟着老家的乐队到杭州演出,认识了那儿做小姐的女孩,Hè đến theo chân ban nhạc quê nhà đến Hàng Châu biểu diễn, quen biết các cô gái làm tiếp viên ở đó.
然后在回北京之后跟她们到了钻石人间,很快就以自己的美貌名声大噪。Trở về Bắc Kinh lại theo chân các nường đến Kim cương nhân gian, bằng dung mạo xinh đẹp của mình nhanh chóng nổi tiếng.
(声名大噪 nổi danh khắp chốn; tiếng tăm lừng lẫy.)
  你知道吗?她把披散在肩膀的头发用一个发箍束在脑后,露出美丽的锁骨,"bạn biết không? Em buộc gọn lại mái tóc lòa xòa ra sau gáy, bờ vai hiện ra thon thả. “
(披散[pī·san] rối tung; bù xù ( tóc, râu, lông )。
箍[gū]. quấn; vấn; trói; buộc)

我第一天到钻石人间上班的时候整个人都呆了,天底下还有这么好挣的 钱,跟男人说说话就给了我八百块钱……唉,男人啊,你们到夜总会找小姐是图一乐对吧?其实呢…… ? Ngày đầu tiên “lên ca” ở Ngọc trần gian người em cứng đờ ra, dưới vòm trời này tiền dễ kiếm đền thế, chỉ nói nói là mấy gã đã boa 800 tệ……Ôi, đàn ông mà, các người đến hộp đêm mua vui đúng không nào? Thực chất thì……
这么说吧,你逗猫玩的时候,能说得清是猫让你开心还是你让 猫开心吗?呵呵,男人,有时候真的…………”
Nói thế này nhé, anh giỡn với con mèo, liệu có phân biệt được là mèo đang làm anh vui, hay anh làm mèo vui không? Ha ha, đàn ông, có lúc thật……hựm……

  她轻蔑的样子,好象把世界上所有的男人都看透了,也好象风月场上摸爬滚打的她已经炼就了一副金钢不坏之身。
Dáng điệu khinh miệt của em, cứ như nhìn thấu hết đàn ông trên thế gian, cứ như là em đã tôi luyện thành thân không thể tổn hại trong trường đời.
(轻蔑 [qīngmiè] khinh thường; khinh thị。摸爬滚打 [mōpáɡǔndǎ] 形容艰苦地训练或工作。)



  但是我总觉得她身上有一种跟别的女孩子不一样的东西。Nhưng tôi vẫn cảm thấy em có điều gì đó khác với những cô gái khác.

  是什么,我说不上。Khác ở đâu, tôi chưa nhận định được.

  那天夜里我送她回家,顺便留宿。Đêm ấý, tôi đưa em về, thuận tiện ngủ lại

  只是,她没有吻我。Có điều, em không hề hôn tôi.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét