28.9.14

Mưa bụi (Dòng sông ly biệt) 烟雨蒙蒙 phần 1 -b

八百块钱生活费,一千块钱房租,一共一千八百,干脆再问他多要几百,作为我们母女冬衣的费用,看样子,我这双鞋子也无法再拖过这个雨季了。Phí sinh hoạt 800 đồng, tiền thuê nhà 1000 đồng, tổng cộng 1800, dứt khoát phải xin ông ta thêm vài trăm đồng xem như là phí dùng đề mua áo quần vào mùa đông cho hai mẹ con, xem ra đôi giày này không thể mang hết mùa mưa này rồi.
(索取  [suǒqǔ] đòi lấy; tìm lấy。他来索取欠款。)

转了一个弯,沿着新生南路走到信义路口,再转一个弯,我停在那两扇红漆大门前面了。
Qua một khúc quanh, men theo con lộ hướng nam Tân Sinh đi tới giao lộ Tính Nghĩa, lai thêm một khúc quanh nữa, tôi dừng lại phía trước hai cánh cổng lớn sơn đỏ.;
那门是新近油漆的,还带着一股油漆味道,门的两边各有一盏小灯,使门上挂着的“陆寓”的金色牌子更加醒目。Cái cổng mới sơn gần đây, còn mùi sơn, hai bên cổng đều có một cái đèn nhỏ làm nổi bật thêm kim bài sắc vàng "Lục gia" treo trên cửa.
( 醒目  [xǐngmù] rõ ràng; nổi bật; dễ thấy (chữ viết, hình vẽ...)。
文字醒目;  非常醒目 ; 醒目的位置;  这个商店的牌号很醒目。)
 我伸手按了按电铃,对那“陆寓”两个字狠狠的看了一眼,陆寓!这是姓陆的人的家!这是陆振华的家!那么,我该是属于这门内的人呢?还是属于这门外的人呢?门开了,开门的是下女阿兰,有两个露在嘴唇外面的金门牙,和一对凸出的金鱼眼睛。
Tôi giơ tay bấm chuông, nhìn hai chử "Lục gia", đây là nhà của người họ Lục sao! Là nhà của Lục Chấn Hoa sao! Thế, tôi là người trong nhà hay là người ngoài đây? Cửa mở, người mở cửa là người hầu A Lan, có hai cái răng cửa vàng lộ ra bên ngoài môi và một đôi mắt kim ngư lồi.
她撑着把花阳伞,缩着头,显然对我这雨夜的“访客”不太欢迎,望了望我打湿的衣服,她一面关门,一面没话找话的说了句:   “雨下大啦!小姐没坐车来?”   废话!哪一次我是坐车来的呢?我皱皱眉问:   “老爷在不在家?”“在!”阿兰点了点头,向里面走去。
Cô ta chống dù, rụt đầu, hình như không hoan nghênh lắm người khách trong đêm mưa, nhìn tôi quần áo ướt hết, cô ta vừa đóng cửa vừa tìm lời để nói: "Mưa lớn thế này! Tiều thư không đi xe tới? Lời thừa, có lần nào tôi đi xe tới đâu? Tôi nhíu mày hỏi: "Lão gia có nhà không? "Có" A Lan gật đầu đi vào bên trong.
我沿着院子中间的水泥路走,这院子相当大,水泥路的两边都种着花,有茶花和台湾特产的扶桑花,现在正是茶花盛开的时候,一朵朵白色的花朵在夜色中依然显得清晰。
Tôi đi theo đường xi măng ở giữa sân, cái sân khá lớn, hai bên đường xi măng trồng hoa, có hoa trà và hoa phù tang đậc sản Đài Loan, bây giờ là lúc hoa trà đang nở, từng đóa hoa sắc trắng trong cảnh đêm vẫn thấy rõ.
( 清晰 [qīngxī] rõ ràng; rõ rệt; rõ nét。清楚。
 发音清晰。phát âm rõ ràng; 十分清晰  rất rõ;  内容清晰  nội dung rõ ràng; 
照片很清晰 hình rất rõ)
一缕淡淡的花香传了过来。我深深的吸了一口气,是桂花!台湾桂花开的季节特别长,妈就最喜欢桂花,但,在我们家里却只有几棵美人蕉。
Một thoáng hương hoa bay tới. Tôi hít sâu vào một hơi, là hoa quế, mùa hoa quế nở ở Đài Loan khá lâu, mẹ thích nhất hoa quế, nhưng nhà chúng tôi chỉ có vài cây chuối tây.
 走到玻璃门外面,我在鞋垫上擦了擦鞋子,收了雨伞,把伞放在玻璃门外的屋檐下,然后推开门走了进去。
Đi đến bên ngoài cửa kính, tôi chùi giày lên tấm đệm, cất dù dưới mái hiên nhà bên ngoài cửa kính, sau đó mở cửa đi vào.
一股扑面而来的暖气使我全身酥松,客厅中正燃着一盆可爱的火,整个房里温暖如春。
Một luồng khí ấm xông vào mặt tôi làm cả người tôi thư giãn ra , trong phòng khách đốt một chậu lửa đáng yêu, làm cả phòng ấm áp như mùa xuân.
收音机开得很响,正在播送着美国热门音乐,那粗犷的乐声里带着几分狂野的热情,在那儿喧嚣着,呼叫着。
Máy nghe nhạc đang mở rất lớn, đang phát những bài nhạc hot của Mỹ, vài phút cuống loạn trong tiếng nhạc thô kệch, ồn ào kêu gào quá mức.
(  播送[bōsòng] phát thanh; truyền thanh;
喧嚣[xuānxiāo]: náo động, ồn ào)
梦萍——我那异母的妹妹,雪姨和爸的小女儿——正斜靠在收音机旁的沙发里,她穿着件大红色的套头毛衣,一条紧而瘦的牛仔裤,使她丰满的身材显得更加引人注目。
Mộng Bình- Con gái của ba và dì Tuyết, em gái khác mẹ của tôi- đang dựa nghiêng ở ghế sa pha bên cạnh máy nghe nhạc, nó mặc bộ áo lông màu đỏ và một cái quần bò bó chặc, làm nổi bật sức hấp dẫn của cơ thể đầy đặn của nó,
一件银灰色的短大衣,随随便便的披在她的肩膀上,满头乱七八糟的短发,蓬松的覆在耳际额前。
Nó khoác thêm lên vai một cái áo khoác ngắn màu xám bạc, tóc ngắn rối bù, xõa tung che vành tai trước trán.
( 蓬松 [péngsōng] xoã tung (cỏ, tóc, râu))
她很美,像她的母亲,也和她母亲一样的充满了诱惑。
Nó rất đẹp giống như mẫu thân của nó đầy vẽ mê hoặc.
诱惑[yòuhuò] mê hoặc; quyến rũ; hấp dẫn)
那对大眼睛和长睫毛全是雪姨的再版,但那挺直的鼻子却像透了爸。
Cặp mắt to và lông mi dài là tái bản của dì Tuyết, còn cái mũi thẳng giống y ba.
她正舒适的靠在沙发中,两只脚也曲起来放在沙发上,却用脚趾在打着拍子,两只红缎子的绣花拖鞋,一只在沙发的扶手上,另一只却在收音机上面。
Nó đang thoải mái dựa vào xô - pha, hai chân cong lại để trên xô- pha, dùng ngón chân đánh nhịp, hai chiếc dép thêu hoa gấm đỏ, một chiếc vịn trên tay trên sa pha, một chiếc ở trên máy phát nhạc.
(缎子 [duàn·zi] sa tanh; gấm
脚趾 [jiǎozhǐ] ngón chân。
绣花  [xiùhuā] thêu hoa。)

她嘴里嚼着口香糖,膝上放着本美国的电影杂志,摇头晃脑的听着音乐。
Trong miệng nó nhai xin gum, trên gối để mấy tạp chí điện ảnh của Mỹ, đầu lắc lư nghe tiếng nhạc.
看到了我,她不经心的对我点了个头,一面扬着声音对里面喊:   “妈,依萍来了!”我在一只长沙发上坐了下来,小心的把我湿了的裙子拉开,让它不至于弄湿了椅垫,一面把我湿淋淋的脚藏了一些到椅子背后去。
Nhìn thấy tôi, nó không gật đầu, vừa chỉnh tiếng nhạc lớn vừa la vào trong: "Mẹ, Y Bình tới kìa!"Tôi ngồi xuống một cái ghế xô- pha dài, cẩn thận kéo cái váy ướt ra không để ướt đệm ghế, một mặt giấu cái chân ướt mèm của tôi vào phía sau cái ghế một chút.
(经心 [jīngxīn] Chú ý; lưu tâm; lưu ý; để ý。在意,留心。)


一种微妙的虚荣心理和自尊心,使我不愿让梦萍她们看出我那种狼狈的情形。
Một chút tâm lý hư vinh và lòng tự tôn, tôi không muốn họ nhìn ra tình trạng thảm hại nhếch nhác của tôi.
(微妙 [wēimiào]
 tế nhị; tinh xảo; nhỏ bé; khéo léo。
 微妙的关系 mối quan hệ tế nhị
 这个问题很微妙 vấn đề này rất tế nhị
狼狈 [lángbèi] nhếch nhác; thảm hại;
 十分狼狈。vô cùng thảm hại.
 今天外出遇到大雨,弄得狼狈不堪。hôm nay ra ngoài bị mắc mưa, thật là tồi tệ.)
但她似乎并不关心我,只专心的倾听着收音机里的音乐。
Nhưng nó hầu như không quan tâm tới tôi, chỉ chú tâm nghe nhạc.
( 专心 [zhuānxīn] chuyên tâm; chuyên chú; dốc lòng; tập trung tinh thần。集中注意力。
 专心一意 một lòng một dạ
 学习必须专心 học hành cần phải chuyên tâm
倾听 [qīngtīng] lắng nghe; chú ý nghe。)

我整理了一下头发,这才发现我那仅有十岁的小弟弟尔杰正像个幽灵般呆在墙角里,倚着一辆崭新的兰陵牌脚踏车,一只脚踩在脚踏上,一只手扶着车把,冷冷的望着我。
Tôi sửa lại mái tóc, phát hiện mình còn đứa em trai Hào Kiệt đang ngây ra ở góc tường, tựa vào một chiếc xe đạp hiệu Lan Lăng ở góc tường, một chân giẫm lên bàn đạp, một tay vịn xe, lạnh lùng nhìn tôi.
 (幽灵[yōulíng] âm hồn; linh hồn người chết。
倚[yǐ] dựa; tựa。
崭新[zhǎnxīn] mới tinh; mới toanh; hoàn toàn mới。
脚踏车 [jiǎotàchē] xe đạp。自行车)
他那对小而鬼祟的眼睛,把我从头到脚仔细的看了一遍,我那双凄惨的脚当然也不会逃过他的视线。
Nó có đôi mắt nhỏ mà lắm la lắm lét,nhìn kỹ tôi một lượt từ đầu xuống chân, đôi chân thê thảm của tôi đương nhiên không thể trốn tầm mắt của nó.
(鬼祟 [guǐsuì] lén lút; lắm la lắm lét, mờ ám.
视线 [shìxiàn] tầm mắt; ánh mắt。

然后,他抬起眼睛,盯着我的脸看,好像我的脸上有什么让他特别感兴趣的东西。
Sau đó nó giương mắt lên nhìn chằm chằm vào mặt của tôi, hình như có gì đò khiến nó hứng thú.
( 盯 [dīng] nhìn chăm chú; nhìn chòng chọc; nhìn chằm chằm).
他并没有和我打招呼,我也不屑于理他。
Nó không hề chào hỏi tôi, tôi cũng chẳng thèm quan tâm đến nó.
(不屑 [bùxiè] chẳng thèm)
他是雪姨的小儿子,爸五十八岁那年才生了他,所以,他和梦萍间足足相差了七岁。
Nó là con trai út của dì Tuyết, ba tôi 58 tuổi mới sinh ra nó, cho nên nó và Mộng Bình cách nhau vừa đúng bảy tuổi.
也由于他是爸爸老年时得的儿子,因此特别的得宠
Cũng vì nó là đứa con trai có được lúc tuổi già của ba tôi, vì thế rất được cưng chiều.
但,他却实在不是惹人喜爱的孩子,我记得爸曾经夸过口:“我陆振华的孩子一定个个漂亮!”   这句话倒是真的,我记忆中的兄弟姐妹,不论哪一个“母亲”生的,倒都真的个个漂亮。
Tôi chẳng phải là đứa con được yêu mến, tôi nhớ ba tôi từng khoe khoan: " Con của Lục Chấn Hoa tôi nhất định đứa nào cũng đẹp! Câu nói này này quả là đúng, anh chỉ em trong ký ức tôi bất luận là người mẹ nào sinh cũng đều xinh cả.
拿妈来说吧。她只生过两个孩子,我和我的姐姐心萍。
Như má tôi, bà ấy chỉ sinh hai đứa con, tôi và chị tôi Tâm Bình.
心萍生来就出奇的美,十五、六岁就风靡了整个南京城。
Tâm Bình sinh ra thì đẹp cực kỳ, mười lăm mười sáu tuổi tiếng vang hết thành Nam Kinh.
( 出奇 [chūqí] đặc biệt; cực kỳ; 风靡 [fēngmǐ] thịnh hành; phổ biến; vang dội。)
小时她很得爸爸的宠爱,爸经常称她作“我的小美人儿”,带她出席大宴会,带她骑马。
Lúc nhỏ chị ấy rất được ba cưng chiều, ba thường gọi chị ấy là " Tiểu mỹ nhân của tôi", dẫn chị ấy tham dự các buổi tiệc lớn, dẫn chị ấy cởi ngựa.
(出席[chūxí] tham dự 。
出席会议

出席婚礼的人都要在红纸上留名。
穿这件衣服出席晚宴,也太丢份了。
宴会[yànhuì] tiệc; đám tiệc 。)

Trần Hoàng Bảo dịch

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét